Tổng quan và 7+ bí mật thú vị

0
255

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Tổng quan và 7+ bí mật thú vị phải ko? Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các kinh nghiệm mẹ và nhỏ hay khác tại đây => kinh nghiệm cho mẹ và bé

Có thể bạn đã từng nghe về probiotics hay còn gọi là men vi sinh nhưng lại chưa biết tới prebiotics là gì. Tưởng chừng 2 khái niệm này là một, nhưng thực chất chúng không giống nhau rất nhiều, từ cấu trúc tới vai trò cho sức khỏe. Hãy cùng đọc bài viết sau để hiểu hơn về prebiotics bạn nhé!

1. Prebiotics là gì?

Khái niệm prebiotics được giới thiệu lần trước tiên vào năm 1995 bởi Glenn Gibson và Marcel Roberfroid. Hiểu một cách đơn giản

Prebiotics là thành phần trong cơ chế dinh dưỡng của chúng ta nhưng thân thể ko tiêu hóa được (chủ yếu là chất xơ), được hệ lợi khuẩn đường ruột lên men có chọn lựa và sử dụng như nguồn dinh dưỡng chính của chúng. 

Từ khái niệm trên, người ta cũng chỉ ra các chất prebiotics phải phục vụ đủ 3 yêu cầu:

  • Ko bị phân cắt bởi dịch tiêu hóa như dịch acid dạ dày, dịch mật dịch tụy ở tá tràng và ko được hấp thụ tại ruột non.
  • Lên men bởi lợi khuẩn đường ruột và là nguồn dinh dưỡng chính của chúng.
  • Kích thích một cách chọn lựa sự tăng trưởng, giúp tăng hoạt tính của lợi khuẩn đường ruột.

Do vậy một cách đơn giản chúng ta có thể hiểu, prebiotics là những chất xơ nhưng enzym tiêu hóa ko tiêu hủy được và là nguồn dinh dưỡng cho lợi khuẩn đường ruột tăng trưởng. Còn khái niệm probiotics là các chủng lợi khuẩn sinh sống trong đường tiêu hóa. Prebiotics là nguồn dinh dưỡng của probiotics.

2. Phân loại Prebiotics

phân loại prebiotics

Có rất nhiều loại prebiotics. Đa số các prebiotics thuộc nhóm carbohydrate – một nhóm dinh dưỡng quan trọng bao gồm đường, tinh bột, xenlulose và chất xơ. Prebiotics được biết tới chủ yếu là các carbohydrate oligosaccharide (OSCs). Một số ít các prebiotics khác được biết tới ko thuộc nhóm carbohydrate. Dưới đây là các prebiotics tiêu biểu:

2.1. Fructan

Fructan bao gồm inulinfructo-oligosaccharide hoặc oligofructose. Một cách đơn giản hơn, fructan là nhóm chất xơ có mạch polyme thẳng với các mắt xích là các phân tử fructose liên kết lại với nhau.

Số lượng phân tử fructose quyết định chiều dài chuỗi polyme và cũng tạo ra một fructan không giống nhau, có thể có từ 2 – 60 mắt xích trong phân tử fructan. Fructan chuỗi ngắn có thể hòa tan, còn chuỗi dài hơn sẽ khó tan. Inulin là một fructan có chuỗi polyme ngắn.

Trong tự nhiên, người ta tìm thấy các fructan chủ yếu trong củ, thân rễ thực vật, ngoài ra một số loại rau quả có chứa fructan như rau diếp xoăn, atiso, hành, tỏi, măng tây, chuối, củ đậu, một số loại lúa mạch,…

Các fructan có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên hệ vi sinh vật đường ruột. Tùy theo độ dài chuỗi đường của phân tử fructan chúng sẽ được lợi khuẩn lựa chọn để lên men. Nhóm lợi khuẩn lên men acid lactic với các loài như Bifidobacteria và Lactobacillus là nhóm lợi khuẩn chính sử dụng nguồn dinh dưỡng fructan này. Đây là phân nhóm prebiotics quan trọng và được nghiên cứu rất nhiều cũng như đã được sản xuất ở quy mô công nghiệp.

2.2. Galacto-Oligosaccharide

Galacto-oligosaccharide (GOS) là các cao phân tử có nhiều hơn 3 phân tử đường galactose với nhau và kết thúc bằng một phân tử glucose. GOS có vị ngọt, tan trong nước, lượng calo thấp nên thường được sử dụng thay thế đường cho bệnh nhân tiểu đường.

GOS có xuất xứ từ động vật, được chiết xuất từ lactose từ sữa bò, dê,…dưới sự xúc tác của enzym beta-galactosidase. Ngoài ra, GOS còn được tìm thấy sớm trong sữa mẹ với hàm lượng lên tới 7%.[1]

GOS được coi là nguồn dinh dưỡng cho các họ lợi khuẩn quan trọng trong đường tiêu hóa như BifidobacteriaLactobacilli. Ngoài ra, GOS cũng là nguồn dinh dưỡng cho nhiều chủng lợi khuẩn quan trọng khác như Enterobacteria , BacteroidetesFirmicutes. GOS có vai trò quan trọng và an toàn với trẻ sơ sinh bởi Bifidobacteria là họ lợi khuẩn chính trong hệ đường ruột của trẻ và GOS là thành phần của sữa mẹ. Đây là một nhóm prebiotics quan trọng và được biết tới rộng rãi.

2.3. Tinh bột và các oligosaccharide có xuất xứ từ glucose

Các loại tinh bột ko bị tiêu hóa bởi các dịch tiêu hóa trong đường ruột còn được gọi là tinh bột kháng dịch tiêu hóa (RS).

Đây là nguồn dinh dưỡng dành cho một số lợi khuẩn nhóm Firmicute hay như các loài Ruminococcus bromii , Bifidobacterium teencentis hoặc lên men kém hơn bởi Eubacterium directaleBacteroides thetaiotaomicron.

Polydextrose là một oligosaccharide có xuất xứ từ glucose, bao gồm glucan nhiều nhánh với liên kết glycoside. Các prebiotics này cần được nghiên cứu thêm để đưa vào sản xuất ở quy mô công nghiệp và các ứng dụng thực tiễn.

Xem thêm bài viết hay:  Cách trị mụn trứng cá ở tuổi dậy thì cho làn da căng mịn, sáng bóng

2.4. Oligosaccharid khác

Oligosaccharide là một polyme mạch thẳng – pectic oligosaccharide (POS).

  • POS có thể được biết tới như  homogalacturonan, xylogalacturonan,  rhamnogalacturonan.
  • Sự nhiều chủng loại của prebiotics nhóm này nhờ việc este hóa methyl và gốc acetyl hóa ở vị trí C2 và C3.
  • Đây là nhóm prebiotics được tìm thấy trong thành phần tế bào của hồ hết các loài thực vật như khoai tây, đậu bắp, củ cải đường, dưa hấu,...[2]
  • Tuy nhiên các prebiotics này chưa có nhiều ứng dụng trong thực tiễn, cần được nghiên cứu thêm.

2.5. Các prebiotics ko phải là carbohydrate

Có rất ít các prebiotics nhóm này. Một prebiotic được biết tới và đang được nghiên cứu là flavanol trong ca cao. Với flavanol, những nghiên cứu bước đầu cho thấy hiệu quả của prebiotics trong làm tăng đáng kể lợi khuẩn Bifidobacteria và Lactobacillus. [3] Tuy nhiên chưa ghi nhận nhiều nghiên cứu trên các nhóm này. Với tiềm năng của nhóm là còn rất lớn nên cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Việc chia nhóm các prebiotics trên đây chỉ mang tính tương đối. Hai nhóm prebiotics được xem là quan trọng nhất là fructan và galacto-oligosaccharide. Hai nhóm prebiotics này là nguồn dinh dưỡng cho hồ hết các chủng lợi khuẩn trong hệ tiêu hóa như Bifidobacteria, Lactobacillus, Enterobacteria,… 

3. Cơ chế tạo động của prebiotics lên hệ vi sinh đường ruột 

Bằng cách phân phối các nguồn năng lượng cho hệ vi sinh vật đường ruột, prebiotics có thể điều chỉnh thành phần và công dụng của các vi sinh vật này. Mỗi chủng lợi khuẩn sẽ sử dụng một số prebiotics nhất mực tạo năng lượng.

Các Bifidobacteria sẽ chủ yếu lên men một số tinh bột và fructan. Các prebiotics cùng nhóm có thể là nguồn thức ăn của các chủng lợi khuẩn không giống nhau tùy thuộc cấu tạo, độ dài ngắn, lớn nhỏ của phân tử prebiotics. 

Thỉnh thoảng thành phầm phụ của một vi sinh vật cũng có thể thành nguồn thức ăn cho một chủng vi sinh vật khác, gọi là cho ăn chéo. Đồng thời thành phầm phụ này cũng có thể là để kháng chủng vi sinh vật khác. Thành phầm lên men prebiotics chủ yếu là acid, do vậy có thể thay đổi pH của môi trường ruột từ 6.5 tới 5.5. Một số vi sinh vật bị ức chế bởi pH acid như Bacteroid. 

cơ chế prebiotics

Nhìn chung, prebiotics tác động lên hệ vi sinh đường ruột trực tiếp hoặc gián tiếp, có vai trò giúp hệ vi sinh vật đường ruột đạt được trạng thái thăng bằng động, góp phần quan trọng để có một đường tiêu hóa khỏe mạnh.

4. Vai trò của Prebiotics trong duy trì và tăng lên công dụng sinh lý thân thể 

4.1. Với các trường hợp rối loạn tiêu hóa

Các prebiotics được biết tới như là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho hệ vi sinh vật đường tiêu hóa, từ đó giúp ổn định thăng bằng động của hệ vi sinh vật này. Việc ổn định hệ vi sinh vật trong đường ruột có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị các vấn đề về rối loạn tiêu hóa, tạo điều kiện cho đường tiêu hóa khỏe mạnh thậm trí hỗ trợ điều trị một số bệnh đường ruột. Một số bệnh liên quan tới đường tiêu hóa được điều trị bằng cách bổ sung prebiotics như sau:

  • Viêm ruột kích thích: Hội chứng viêm ruột kích thích là trường hợp bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa tái đi tái lại nhiều lần nhưng ko tìm thấy tổn thương loét. Người bị hội chứng này sẽ có các triệu chứng đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa,…Một số các prebiotics ở liệu lượng nhất mực sử dụng có tác dụng ngừa hội chứng ruột kích thích và bệnh Crohn. 
  • Ung thư đại trực tràng: Inulin liên kết với Bifidobacteria và Lactobacillus làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng bằng cách giảm vận tốc tăng sinh tế bào dị biến ở đại trực tràng, gây hoại tử tế bào ruột kết, tạo hàng rào bảo vệ tính trọn vẹn và công dụng của hàng rào biểu mô.
  • Viêm ruột hoại tử:  Là tình trạng nghiêm trọng xảy ra ở trẻ sinh non do sự tăng trưởng của hệ vi sinh vật gây hại trong đường tiêu hóa trong lúc các lợi khuẩn còn yếu. FOS và GOS giúp cải thiện hệ lợi khuẩn đường ruột, ngăn ngừa vi sinh vật gây hại tăng trưởng mạnh do vậy có tác dụng phòng ngừa viêm ruột hoại tử ở trẻ sinh non.

Ngoài ra các thành phầm sinh ra từ FOS và GOS có thể giúp cải thiện chức tiêu hóa bằng tăng tháo rỗng dạ dày và tăng nhu động ruột. Do vậy prebiotics có thể là một thành phầm giúp hỗ trợ đường tiêu hóa của nhỏ khỏe mạnh và ổn định hơn.

» Xem thêm: 10 điều cần biết về rối loạn tiêu hóa ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

4.2. Với hệ thống miễn nhiễm 

Nhiều prebiotics lúc được bổ sung sẽ giúp hệ thống miễn nhiễm khỏe mạnh hơn. Các cơ chế của công dụng này được thực hiện thông qua việc ức chế sự phát sinh của các chủng vi sinh vật gây hại, ngăn ngừa chúng bám vào niêm mạc ruột đồng thời giúp tăng cường các yếu tố bảo vệ như các tế bào miễn nhiễm IL-4. IL-10, IL-6, IL-8, tế bào xoá sổ tự nhiên NK. Điều thú vị ở đây là, các chất sinh ra từ prebiotics ở mẹ có thể qua nhau thai vào con và giúp hệ miễn nhiễm của con được tăng lên. Chính vì vậy việc mẹ sử dụng prebiotics có tác dụng ngăn nguy cơ viêm ruột hoại tử ở trẻ sinh non.

  • Hỗn hợp oligofructose và inulin : Hỗn hợp oligofructans và inulin có thể cải thiện phản ứng của kháng thể đối với vacxin virut, chẳng hạn như cúm và sởi. Từ đó giúp giảm nguy cơ các phản ứng quá mẫn với vacxin như sốt, đau đầu, dị ứng,…
  • FOS: Tiêu thụ FOS giúp tăng nồng độ IL-4, IL-6 và tế bào T. Từ đó FOS giúp cải thiện những triệu chứng phản ứng của thân thể lúc tiêm vacxin ngừa cúm, làm giảm tình trạng sốt bị tiêu chảy, giảm tần suất sử dụng kháng sinh, giảm thời kì mắc bệnh và giảm tỉ lệ co giật do sốt cao ở trẻ. Ngoài ra FOS còn giảm nguy cơ viêm da dị ứng ở trẻ em.
  • GOS: Giúp làm tăng nồng độ IL-8 và IL-10, cải thiện công dụng tế bào xoá sổ tự nhiên NK. Từ đó GOS làm giảm nguy cơ viêm da cơ địa và bệnh chàm.
Xem thêm bài viết hay:  Bài cúng đầy tháng bé trai đơn giản giúp con mau ăn chóng lớn

Với nhiều lợi ích quan trọng trong việc cải thiện công dụng miễn nhiễm, prebiotics nên nằm trong số các lựa chọn cho mẹ và nhỏ.

4.3. Với hệ thần kinh 

Prebiotics tác động tới hoạt động của não thông qua 3 tuyến đường: dây thần kinh, nội tiết và miễn nhiễm. 

  • Tuyến đường thần kinh: Các thành phầm của quá trình lên men prebiotics có thể tác động tới não bằng dây thần kinh phế vị. FOS và GOS có tác dụng điều chỉnh các yếu tố nuôi dưỡng dây thần kinh từ não, chất dẫn truyền thần kinh (D-serine) và protein tiếp hợp (synaptophysin và N-methyl-D-aspartate). Chính nhờ vai trò này giúp người sử dụng prebiotics tăng khả năng tập trung, tăng cường sự ghi nhớ, làm việc với năng xuất cao hơn, tăng khả năng học tập. 
  • Tuyến đường nội tiết: Trục dưới đồi- tuyến yên- thượng thận là đường thần kinh nội tiết. Việc hỗ trợ thân thể điều hòa corticosterone và hormon vỏ thượng thận giúp cải thiện tâm trạng tránh cáu gắt, stress, căng thẳng, lo lắng từ đó giúp cải thiện công dụng thần kinh như tăng sự ghi nhớ, tăng khả năng học tập và làm việc. Ngoài ra prebiotics còn hoạt động như một chất điều hòa các hormone khác.
  • Tuyến đường miễn nhiễm: Đã trình diễn ở trên. 
Bệnh não gan: là biến chứng nguy hiểm lúc tăng nồng độ amoniac trong máu ở bệnh nhân xơ gan. Biến chứng này nhẹ có thể tác động tới công dụng giao tiếp và vận động, nặng có thể gây hôn mê sâu và tử vong.

Dùng prebiotics có thể giúp giảm nồng độ amoniac trong máu qua 3 cơ chế:

  • Giảm chuyển hóa amin trong ruột thành amoniac, thành phầm lên men prebiotics bởi các chủng lợi khuẩn tạo acid lactic
  • Chuyển amoniac thành amoni và vứt bỏ ra ngoài
  • Cuối cùng tăng tháo rỗng qua ruột già, giảm thời kì lên men.

Chính nhờ các cơ chế này giúp ngăn ngừa hội chứng não gan trên nền bệnh gan nặng.

Chính vì vậy,  prebiotics cũng có khả năng tác động tới tâm trạng, sự ghi nhớ, tăng khả năng tập trung và khả năng học tập, điều chỉnh một số rối loạn thần kinh bằng cách thay đổi hoạt động và/hoặc thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột. 

4.4. Với da

GOS giúp làm giảm nguy cơ viêm da dị ứng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thông qua việc tăng cường hệ miễn nhiễm như đã trình diễn ở trên. Ngoài ra, trong quá trình lên men ở ruột, vi sinh vật sẽ có thể tạo ra phenol, được chuyển và da và gây độc trên các bệnh nhân mắc bệnh thận thể nhẹ. Sử dụng GOS giúp thân thể giảm tổng hợp thành phần phenol, giúp da giảm tình trạng sừng hóa và mất nước. GOS còn tăng cường khả năng giữ nước và giảm ban đỏ thông trên phụ nữ.

4.5. Với tim mạch 

Prebiotics có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch bằng cách giảm các yếu tố gây viêm. Inulin với 10g/ ngày trong 3 tuần giúp giảm tạo mỡ ở gan và nồng độ triacylglycerol trong huyết tương. L-rhamnose giảm nồng độ acid mập tự do. Sử dụng GOS giúp tăng HDL- cholesterol tốt trong huyết thanh. Chính nhờ giảm các yếu tố gây hại mạch máu như triglyceride, acid mập tự do và tăng nồng độ HDL có lợi các prebiotics có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch trên các nhân vật có nguy cơ cao như người mập phì, tăng huyết áp, tiểu đường. 

lá ổi giúp tim khoẻ mạnh

4.6. Với hấp thụ canxi

Một số prebiotics có khả năng sự hấp thụ canxi lên đáng kể như lactulose, TOS hoặc inulin + oligofructose với liều lượng dao động từ 5 tới 20g / ngày. Với trẻ em tăng đáng kể lượng canxi trong máu xúc tiến quá trình khoáng hóa xương giúp trẻ phát chiều cao. Với phụ nữ có thai và cho con bú hoặc người cao tuổi, nhu cầu canxi lớn nên đây có thể là giải pháp giúp hấp thụ canxi hiệu quả.

5. Thứ tự sản xuất các thành phầm prebiotics

Prebiotics có vai trò quan trọng với con người. Trong tự nhiên, chúng có hàm lượng thấp trong một số thực phẩm, chủ yếu là các loại rau (măng tây, củ cải đường, tỏi, rau diếp xoăn, hành tây,..) hay các loại hạt (tiểu mạch, lúa mạch, lúa mạch đen, đậu nành,…), trong quả (cà chua, chuối,…) sữa bò, mật ong, tảo, vi tảo. Với quy mô công nghiệp, các thành phầm prebiotics được sản xuất từ nguồn vật liệu như lactose, sucrose và tinh bột. Các prebiotics được sản xuất nhiều nhất thuộc phân nhóm GOS, FOS.

5.1 FOS

FOS có trong vòng 36000 nghìn thực vật, tuy nhiên hàm lượng rất thấp. Tại Nhật Bản và Mỹ, các thực phẩm như đồ ăn vặt, sữa chua, thành phầm giảm cân, thành phầm chay, fructan được bổ sung vào để thay thế cho chất mập và đường và giúp làm giàu chất xơ. Tại EU, fructan được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi. Chính những điều này thúc đầy ngành công nghiệp sản xuất fructan tăng trưởng.

Xem thêm bài viết hay:  Trì hoãn tiêm chủng cho trẻ có hại như thế nào?

Fructan sản xuất trong quy mô công nghiệp từ thực vật. Các vật liệu thực vật quan trọng như actiso, rau diếp xoăn. Thứ tự gồm 3 bước:

  • Chiết xuất từ vật liệu thực vật thô chủ yếu là rau diếp xoăn.
  • Tinh luyện và phân giải: Loại tạp tuần tự bằng CaCO3 vi tinh thể và màng lọc ion, than hoạt tính. Loại vi khuẩn bằng màng siêu lọc 0.2 mcm.
  • Phun sấy 

Dịch fructan sau lúc được tinh luyện thì làm bay hơi và phun sấy. Thành phầm cuối cùng là dạng bột frutan ổn định và có tới trên 90% inulin. 

Ngoài sản xuất bằng vật liệu thực vật, FOS còn được sản xuất qua quá trình tổng hợp enzyme. Vật liệu  được lựa chọn là Sucrose với enzym Aspergillus niger hoặc Aureobasidium pullulans.

FOS hoàn toàn có thể sản xuất trong công nghiệp với vật liệu và thứ tự sản xuất rất an toàn. Thành phầm cuối cùng thu được có hàm lượng inulin rất cao. [4]

5.2. GOS

GOS được sản xuất ở quy mô công nghiệp thông qua enzym β-Galactosidases tái tổ hợp từ một số nấm men S. cerevisiaePichia Pastoris. Enzym được tạo ra từ c loại nấm men này có ưu nhiều ưu điểm hơn vi khuẩn. Quá trình tổng hợp GOS là một thăng bằng động, yêu cầu cần xử lý các thành phầm phụ phát sinh như glucose hay galactose. Nhìn chung, GOS được tổng hợp đạt hàm lượng cao hơn rất nhiều so với GOS trong tự nhiên và an toàn cho người tiêu dùng.

GOS hay FOS được sản xuất với hàm lượng cao hơn so với tự nhiên, thứ tự cẩn mật và an toàn do vậy thành phầm GOS hay FOS có thể là lựa chọn cho nhiều nhân vật bệnh nhân. [5]

6. Prebiotics có an toàn ko? 

Thông thường, các enzym tiêu hóa ko tiêu hóa được các prebiotics. Tác dụng ko mong muốn của prebiotics thường ko nghiêm trọng, chủ yếu liên quan tới công dụng thẩm thấu của prebiotics. Prebiotics có thể hút nước vào trong lòng ruột do vậy có thể gây tiêu chảy, chướng bụng, tuy nhiên ko quá nghiêm trọng. Tuy nhiên trên nhiều trường hợp đây lại là lợi ích điều trị như bệnh nhân bị táo bón, việc thẩm thấu nước vào phân giúp mềm phân, tăng khối lượng phân và tăng tháo rỗng ruột, từ đó tình trạng táo bón được cải thiện.

trẻ táo bón

Các prebiotics chuỗi ngắn sẽ có tác dụng phụ rõ rệt hơn. Vì chuỗi ngắn sẽ được tiêu hóa ở đoạn đầu ruột già còn chuỗi dài tiêu hóa chậm hơn ở đoạn cuối ruột. Liều lượng prebiotics ko tác động tới tác dụng phụ của nó, do vậy ko có nguy cơ quá liều lúc dùng prebiotics. Do vậy các prebiotics chuỗi ngắn có thể được bổ sung cho các nhân vật bị táo bón như trẻ lười ăn rau, hoa quả.

Một lựa chọn thay thế cho việc sử dụng prebiotics là sử dụng men tiêu hóa hoặc thành phầm probiotics (lợi khuẩn). Tuy nhiên, những lo ngại về tính an toàn của men tiêu hóa đặc thù là tình trạng ức chế sản xuất enzym của các lợi khuẩn nội sinh nếu dùng một thời kì dài sẽ dẫn tới lệ thuộc vào men tiêu hóa. Nên các chuyên gia khuyến cáo ưu tiên bổ sung lợi khuẩn probiotics có liên kết với prebiotics cho thân thể.

Prebiotics tương đối an toàn với thân thể do ko gây nên tác dụng phụ nghiêm trọng nên có thể được bổ sung trên nhiều nhân vật như phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Kết luận

Prebiotics có nhiều vai trò quan trọng với thân thể và tương đối an toàn do vậy được khuyến khích để bổ sung cho thân thể. Có thể phối hợp với việc bổ sung cả chủng lợi khuẩn probiotics để tăng cường hệ tiêu hóa và miễn nhiễm cho thân thể. Việc bổ sung này nên thực hiện cho mọi thành viên trong gia đình đặc thù trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, phụ nữ có thai đang bổ sung sắt,…Ngoài ra, một cơ chế ăn giàu rau xanh và hoa quả có thể là một nguồn chất xơ và prebiotics tiềm năng nhưng bạn ko nên bỏ qua.

>>Xem thêm: Probiotics là gì và ứng dụng với sức khoẻ

Mọi cụ thể thắc mắc xin liên hệ HOTLINE 1900 9482 hoặc 09 6762 9482

===============================================================

Tài liệu tham khảo

[1] S. Mitmesser, M. Combs, in The Microbiota in Gastrointestinal Pathophysiology, 2017, “Prebiotics: Inulin and Other Oligosaccharides”

[2] Debra Mohnen, in Comprehensive Natural Products Chemistry, 1999, “Carbohydrates and Their Derivatives Including Tannins, Cellulose, and Related Lignings”

[3] Tzounis X, Rodriguez-Mateos A, Vulevic J, Gibson GR, Kwik-Uribe C, Spencer JP. Prebiotic evaluation of cocoa-derived flavanols in healthy humans by using a randomized, controlled, double-blind, crossover intervention study. Am J Clin Nutr. 2011 Jan;93(1):62-72. doi: 10.3945/ajcn.110.000075. Epub 2010 Nov 10. PMID: 21068351.

[4] Zimmermann, A., Visscher, C. & Kaltschmitt, M. Plant-based fructans for increased animal welfare: provision processes and remaining challenges. Biomass Conv. Bioref. (2021). https://doi.org/10.1007/s13399-021-01473-2

[5] Davani-Davari D, Negahdaripour M, Karimzadeh I, et al. Prebiotics: Definition, Types, Sources, Mechanisms, and Clinical Applications. Foods. 2019;8(3):92. Published 2019 Mar 9. doi:10.3390/foods8030092


Thông tin thêm

Tổng quan và 7+ bí mật thú vị

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_3_plain]

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_1_plain]

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_2_plain]

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_2_plain]

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_3_plain]

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

[rule_1_plain]

Nguồn:ThanhCung.Com

#Tổng #quan #và #bí #mật #thú #vị

Đánh giá post

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây